05:09 pm - Tuesday 21 May 2013
Hanoi, VM - 27 °CPartly Cloudy - Humidity: 79%

Chương 14 Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành

By VNSW - Fri Apr 08, 2:56 am

VNSW trân trọng giới thiệu chương 14 với tên gọi “Công tác xã hội với người đồng tính” trong tập tài liệu “Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành” của tác giả Trần Đình Tuấn.

Chiếm từ 5 đến 10% dân số của nhân loại, người đồng tính thuộc một cộng đồng thiểu số rất lớn, họ có mặt từ thượng cổ, trong mọi sắc tộc, mọi văn hóa, mọi quốc gia, và gần như luôn luôn bị kỳ thị, ngược đãi, lý do chính là vì họ khác số đông không phải ở màu da, tôn giáo, ngôn ngữ… mà ở lĩnh vực vẫn còn hết sức nhạy cảm đối với văn hóa của nhân loại: tính dục. Nói đến tính dục thật ra cần phân biệt ba ý nghĩa khác nhau: ứng xử về tình dục/sexual behavior là những cái người ta làm trong hành vi tình dục để đạt được cảm xúc tình dục; căn cước tính dục/sexual identity là giới tính người ta nhìn nhận cho bản thân, thí dụ đồng tính nam, đồng tính nữ, dị tính, song tính, hoán trang, hoán tính… (xem định nghĩa trong bài đọc thêm “Đồng Tính Luyến Ái Ghét Hay Thương”, trang 178); và tính dục/sexual orientation là cái ham muốn thực sự sâu kín, ổn định, về tình dục đối với người cùng phái hay khác phái. Đối với đa số, ba ý nghĩa trên đây cùng nhau hoạt động, liên tiếp tác động lẫn nhau, tạo thành cá tính về tính dục của mỗi người. Trái với quảng cáo của nhiều cá nhân và tổ chức (thường là có liên hệ với các tôn giáo bảo thủ cánh hữu) là có thể “chữa” được “bệnh “đồng tính”, bằng chứng khoa học hiện nay cho thấy chỉ ứng xử về tình dục và căn cước tính dục là có thể thay đổi, một cách không dễ dàng, nhưng tính dục là tự nhiên, ổn định và kéo dài suốt đời người.

Vì sự khác biệt rất nhạy cảm, rất lớn kể trên, và vì thiếu kiến thức khoa học, từ xưa cho đến năm 1957, người ta đã cho đồng tính luyến ái là một bệnh. Trong công trình khảo cứu của bà, thực hiện năm 1957, Evelyn Hooker (1907-1996) đã chọn mẫu khảo cứu gồm 30 người đồng tính nam trong cộng đồng (không phải là khách hàng của bà) và 30 người dị tính nam trong các tổ chức cộng đồng. Sau khi áp dụng đồng nhất ba trắc nghiệm (Rorschach, Thematic Apperception Test, và Make-A-Picture-Story Test) cho tất cả mọi người trong hai nhóm, để khảo sát tâm lý, đo lường khả năng hội nhập, khả năng trí tuệ… bà nhập chung họ lại và phân nhóm theo tuổi tác, chỉ số thông minh, và trình độ giáo dục.

 

Không được cho biết về tính dục của các đối tượng, hai chuyên gia Rorschach độc lập phân tích kết quả khảo cứu đã không phân biệt được, cao hơn mức đoán ngẫu nhiên, người nào đồng tính người nào dị tính. Một chuyên gia thứ ba duyệt xét khả năng hội nhập về tâm lý của các đối tượng cũng không thấy được sự khác biệt đáng kể nào giữa hai nhóm đồng tính và dị tính. Evelynn Hooker kết luận đồng tính không phải là một trạng thái lâm sàng và không liên quan gì đến khoa tâm lý bệnh học.

 

Năm 1973, dựa trên khảo cứu của Evelyn Hooker, Cẩm Nang Chẩn Đoán và Thống Kê Bệnh Tâm Thần DSM của Hội Chuyên Khoa Thần Kinh Tâm Trí Mỹ/American Psychiatric Association đã loại bỏ đồng tính ra khỏi danh sách bệnh tâm thần. Một thiểu số bác sĩ thần kinh tâm trí chịu ảnh hưởng của phe tôn giáo bảo thủ đã kịch liệt phản đối quyết định này và đòi bầu phiếu nội bộ để giải quyết vấn đề. Cuộc đầu phiếu đã được tiến hành năm 1974 và đa số hội viên đã ủng hộ quyết định loại bỏ đồng tính ra khỏi danh sách bệnh.

 

Năm 1980 một chẩn đoán mới, Ego Dystonic Homosexuality, mô tả tình trạng những người đồng tính khổ đau với tính dục tự nhiên của mình, được đưa vào DSM-III. Năm 1986 trạng thái này cũng được loại khỏi DSM-III như một chẩn đoán riêng, và được bao gồm vào “Các Rối Loạn Tình Dục Khác/Sexual Disorders Not Otherwise Specified.

 

Mặc dù đã trải qua những phát triển kể trên, ảnh hưởng của phe tôn giáo bảo thủ cánh hữu vẫn còn áp đảo, và người đồng tính vẫn còn là nạn nhân của áp bức và phân biệt đối xử trên khắp thế giới. Một thí dụ điển hình của tình trạng kỳ thị này là mặc dù 99% những tội ác tình dục với trẻ vị thành niên là do can phạm dị tính gây ra, khi xảy ra vụ việc công chúng chỉ có phản ứng với cá nhân tội phạm; trái lại khi thỉnh thoảng có một vụ do tội phạm đồng tính gây ra, người ta dễ dàng kết án cả cộng đồng đồng tính. Tại nhiều nước Hồi giáo ở Trung Đông, đồng tính vẫn bị coi là một tội ác, điển hình là ở Iran từ 1979 đến nay đã có khoảng 4000 người đồng tính bị xử tử. Tại Anh cho đến vài chục năm gần đây, đồng tính cũng bị coi là một tội hình sự và một trong những can phạm nổi tiếng là Alan Turing, người anh hùng đã phá được khóa mật mã viễn thông tối mật của Đức trong thế chiến II, góp phần tạo nên chiến thắng cho Đồng Minh. Sau khi bị kết tội, Turing đã tự sát. Kết quả là, mặc dù không còn bị coi là chịu ảnh hưởng của quỷ Satan, bị truy lùng để đưa lên giàn hỏa như trong thời Trung Cổ ở Âu châu, nhiều người đồng tính hiện nay vẫn sợ hãi che dấu tính dục của mình, cam chịu một cuộc đời hai mặt, lén lút, giả dối và khổ đau.

 

1. Nguyên Nhân Của Đồng Tính

 

Nhân loại đã có nhiều nỗ lực để tìm hiểu nguyên nhân của đồng tính (nguyên nhân của dị tính thì không ai đặt ra vì đó là Trời sinh!). Thời xưa, do ảnh hưởng của tôn giáo (Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo, và Hồi giáo) người ta cho đồng tính là do quỷ Satan xúi dục, cám dỗ, để chống lại những dạy dỗ của Thiên Chúa. Lập luận này, mặc dù hoàn toàn không có cơ sở khoa học, đến nay vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm mặc dù không còn mạnh mẽ như thời Trung Cổ trở về trước. Hiện nay có hai tranh cãi chính về nguyên nhân của đồng tính:

 

Phái Thiên Chúa giáo bảo thủ chủ trương đồng tính là một chọn lựa của cá nhân do ảnh hưởng của môi trường trái với ý muốn của Thiên Chúa (6000 năm trước đây Thiên Chúa tạo ra Adam và Eve chứ không phải tạo ra Adam và Steve). Một số khoa học gia chịu ảnh hưởng Thánh kinh đã chỉ ra những yếu tố sau đây là tiền đề dẫn đến đồng tính:

  • · Tính khí buồn bã từ nhỏ;
  • · Quan hệ xấu với cha mẹ trong tuổi ấu thơ;
  • · Được nuông chiều, buông thả, thiếu giáo dục trong kỷ luật;
  • · Ý thức mơ hồ không rõ ràng về căn cước tính dục;
  • · Chấn động về tình dục trong tuổi thơ;
  • · Quan tâm đến tình dục từ thuở bé;
  • · Thủ dâm và tưởng tượng về tình dục trong tuổi thơ;
  • · Ảnh hưởng của văn hóa đồng tính trong tuổi thơ.

 

Khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi, những người có những yếu tố tiền đề trên đây sẽ trở thành đồng tính.

 

Phái khoa học cấp tiến chủ trương yếu tố gen tức bẩm sinh, quyết định tính dục của con người. Một trong những bằng chứng thường được viện dẫn của chủ trương này là công trình khảo cứu của Michael Bailey, Northwestern University, Chicago vào thập niên 1990. Giáo sư Bailey khảo sát 110 cặp song sinh đồng trứng/identical twins và đồng phái đã được tách rời từ sơ sinh, nuôi riêng biệt trong những môi trường khác nhau, kết quả tìm ra là nếu trong những cặp song sinh này có một người đồng tính thì khả năng người kia cũng đồng tính là 52%. So với các cặp song sinh khác trứng/fraternal twins, khả năng này chỉ là 22%. Đối với anh chị em đồng phái không song sinh, khả năng này giảm xuống còn 11%. Điều này nói lên tính cách quan trọng của yếu tố di truyền trong việc hình thành tính dục của cá nhân.

 

2. Một số lý thuyết khác

Sigmund Freud không coi đồng tính là một bệnh mà chủ trương con người sinh ra bẩm sinh có cả hai tính dục đồng tính và dị tính, mối quan hệ trong tuổi ấu thơ với cha mẹ đồng phái và ảnh hưởng của môi trường sẽ đẩy con người phát triển tính dục theo hướng đồng hay dị tính. Từ lý thuyết này nảy sinh thành kiến về người cha thụ động và người mẹ áp đảo là tiền đề cho đứa con đồng tính.

 

Một trong những nhà tình dục họccó ảnh hưởng nhất trên thế giới là Alfred Kinsey (1894-1956) cho rằng đồng tính là một trong nhiều tính dục tự nhiên khác nhau của con người. Qua phỏng vấn thu thập thông tin từ hơn 18.000 người, khảo cứu của Kinsey loại bỏ tất cả các khuôn khổ văn hóa, tôn giáo… từ xưa vẫn gắn liền với tình dục, chú ý nghiên cứu bản thân hành vi tình dục và xây dựng một phương pháp đo lường tính dục bằng một thang điểm từ 0 đến 6, (thang Kinsey) 0 là hoàn toàn dị tính và 6 là hoàn toàn đồng tính.

 

Trong thời gian từ thập niên 1990 trở lại đây khoa di truyền học đã đạt được những tiến bộ đáng kể, cho phép hướng đến lý thuyết tất cả các ứng xử của con người đều do yếu tố di truyền kiểm soát (Bargh & Chartrand, 1999). Mặc dù vậy cho đến nay vẫn chưa ai có thể khẳng định được nguyên nhân của tính dục con người.

3. Mục Tiêu Của CTXH

CTXH không quan tâm đến vấn đề nguyên nhân của tính dục (không bao giờ đề cập vấn đề này với khách hàng đồng tính) mà quan tâm đến công bằng xã hội và sự an sinh của con người. Cũng như người dị tính, những người đồng tính vui sống với tính dục của mình không cần đến sự giúp đỡ của bất cứ ai, kể cả của CTXH. Tuy nhiên, với sứ mệnh chống bất công xã hội và tranh đấu cho quyền bình đẳng của mọi người, CTXH nhắm mục tiêu giúp những người đồng tính trăn trở với tính dục của họ phục hồi tự tin, công khai hóa tính dục cá nhân, mạnh dạn chống lại tất cả các hình thức kỳ thị của xã hội, của bản thân (tự mình nghi ngờ giá trị của mình), phát triển bình thường các năng khiếu bẩm sinh, và vui sống.

 

Ở tầng trung gian/mezzo:

CTXH tạo điều kiện để các người đồng tính có cơ hội thành lập nhóm để hỗ trợ tinh thần cũng như vật chất cho lẫn nhau. Cung cấp thông tin, giáo dục, để gia đình có được những kiến thức khoa học về đồng tính và thay đổi cách đối xử với người thân đồng tính là mục tiêu của CTXH.

 

Ở tầng vĩ mô/macro:

CTXH cung cấp thông tin và giáo dục để quần chúng thay đổi thành kiến với người đồng tính, xóa bỏ lối diễu cợt rẻ tiền có tính cách phỉ báng miệt thị người đồng tính trên các phương tiện truyền thông và văn nghệ đại chúng. CTXH cũng vận động để có được những chính sách và luật lệ chống kỳ thị người đồng tính trong tất cả các lĩnh vực của đời sống như công ăn việc làm, nhà ở, và các quyền lợi đi liền với định chế hôn nhân…

 

Ở tầng cá nhân/micro:

Bước đầu tiên để người đồng tính có được cuộc sống bình thường như tất cả mọi người trong xã hội là hoà giải với chính mình và sau đó công khai thừa nhận tính dục của mình với thế giới bên ngoài. Công khai thừa nhận với ai, lúc nào, là những yếu tố cá nhân hết sức quan trọng, và phải hoàn toàn do người đồng tính quyết định với sự giúp đỡ của nhân viên CTXH. Trong công tác lượng định, nhân viên CTXH sẽ hiểu được cụ thể hoàn cảnh gia đình, cộng đồng, bạn bè, công ăn việc làm, các thế mạnh yếu, các tài nguyên… để giúp người đồng tính lập kế hoạch công khai với những ai và vào thời điểm nào.

 

Hoà giải với chính mình: người đồng tính phải được nhân viên CTXH trợ giúp về tâm lý để tẩy sạch những thành kiến của chính mình do văn hóa, xã hội, tôn giáo (của đa số dị tính) gây ra, thí dụ đồng tính là tội lỗi, quỷ Satan cám dỗ, vấn đề nối dõi tông đường (bất kể tính dục, không phải ai cũng cần có con và muốn có con, ngoài ra người đồng tính vẫn có thể có con nếu họ muốn)… Sau khi có được ý thức mới về bản chất tính dục tự nhiên của mình, người đồng tính sẽ dần dần xây dựng được tự tin và có thể mạnh dạn ra công khai. Ra công khai trước khi đạt được tình trạng này sẽ dẫn đến thất bại và xáo trộn về tâm lý cho tất cả mọi người liên can.

 

Chuẩn bị: tránh công khai hóa bằng cách bất ngờ tuyên bố tính dục của mình với người thân (có thể gây ra giận dữ, choáng, đứng tim cho cha mẹ hay người thân già yếu), nên có sự chuẩn bị bằng những bước nhỏ, thí dụ giới thiệu bạn trai, bạn gái đồng tính, mang sách báo, tác phẩm văn chương đồng tính về nhà đọc và “vô tình” để quên trong phòng khách, phòng ăn, phòng gia đình… để người thân tò mò, nghi ngờ, đặt câu hỏi. Chuẩn bị cách đối phó với những phản ứng mạnh mẽ của người thân: giận dữ, khóc lóc, la hét, van xin, khuyên lơn, đuổi ra khỏi nhà, từ… hoặc bình tĩnh giả tạo, bày tỏ sự hỗ trợ không có thật. Ghi nhớ trước trong đầu dù phản ứng ban đầu có tiêu cực thế nào, sau cùng người thân cũng vẫn là người thân và thời gian sẽ giúp mọi người nguôi ngoai và chấp chận những thực tế mới.

 

Cách thức công khai: nên hẹn trước để công khai trong một buổi nói chuyện đúng đắn chứ không công khai nhân một cơ hội nào đó, thí dụ đang đi chơi, thăm viếng bà con, trong bữa tiệc cưới, đám giỗ… cần sắp xếp thời gian riêng cho cuộc nói chuyện quan trọng này. Trình bày tính dục của mình một cách từ tốn, điềm đạm, và khẳng định. Nhấn mạnh sự kiện tính dục đồng tính hay dị tính không ảnh hưởng gì đến mối quan hệ và cách cư xử từ xưa đến giờ của bản thân với người thân.

 

Sau khi công khai: cần chuẩn bị sự chối bỏ, không tin và toan tính “chữa chạy” của người thân. Tiếp tục cung cấp thông tin, chuyện trò tâm sự khi thuận tiện, để người thân liên tục được cung cấp kiến thức. Tham gia mọi sinh hoạt bình thường trong gia đình, và kiên nhẫn để cho thời gian làm việc.


1. Đề tài thảo luận nhóm

 

X là một đồng tính nam 28 tuổi, con trai duy nhất trong gia đình có ba chị em. X biết mình không giống những người chung quanh từ năm 7 hoặc 8 tuổi. Từ tuổi vị thành niên X đã nhận ra sự hấp dẫn của con trai, nhưng anh cố gắng dấu điều đó với các bạn. X  còn nhớ kỹ những cảm xúc rạo rực khi gần gũi các bạn trai trong những chỗ dành riêng cho con trai. Lớn lên, X cố gắng hoà đồng bằng cách tham gia những câu chuyện về trai gái với các bạn, rồi có bạn gái, gần gũi bạn gái (một phần để giống mọi người chung quanh), nhưng X thực sự không hề bao giờ hoàn toàn có cảm giác hạnh phúc. Trong năm thứ nhì ở đại học, X lần đầu tiên có bạn tình trai, và khẳng định được tính dục của mình. Từ đó X có quan hệ tình dục với nhiều bạn trai, và từ hai năm nay gắn bó với một người yêu đồng tính. X muốn thú thật với cha mẹ, X tin rằng cha mẹ đã bán tín bán nghi, nhưng vẫn cố gắng hy vọng vào điều ngược lại. X muốn thẳng thắn trình bày tính dục của mình để bố mẹ đừng trông mong điều không bao giờ xảy ra (X lấy vợ và đẻ con cho ông bà có cháu nối dõi tông đường) nhưng nghĩ đến phản ứng của cha mẹ và hai chị, X mất hết can đảm, và có lúc chỉ muốn bỏ nhà ra đi tuyệt tích.

Nếu X là khách hàng của bạn, bạn sẽ lượng định ra sao và giúp X như thế nào?

Giả dụ X không có cảm xúc tình dục với bạn gái, nhưng chưa bao giờ có bạn tình trai, và bối rối về căn cước tính dục của mình, bạn sẽ giúp X như thế nào?

Bài đọc thêm  ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI, GHÉT HAY THƯƠNG

 

Trần Đình Tuấn

Đi trên phố Castro của San Francisco, người ta thấy nhan nhản những chàng trai trẻ âu yếm nắm tay nhau dạo phố dưới những lá cờ cầu vồng sặc sỡ, biểu tượng của giới đồng tính, hãnh diện tung bay bên các cửa sổ. Những đôi tình nhân như các chàng trẻ kể trên đã là nguồn cảm hứng cho bài “Tình Trai” bất tử của nhà thơ Xuân Diệu:

Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine,

Hai chàng thi sĩ choáng hơi men.                                                                                       Say thơ xa lạ, mê tình bạn,                                                                                                      Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen.

Những bước song song xéo dặm trường,                                                                          Đôi hồn tươi mát đậm hoa hương.                                                                                                Họ đi tay yếu trong tay mạnh,                                                                                        Nghe ngát ân tình giữa gió sương.

Kể chi chuyện trước với ngày sau,                                                                                            Quên ngó môi son với áo màu;                                                                                            Thây kệ thiên đường và địa ngục,                                                                                 Không hề mặc cảm họ yêu nhau.

Không phải người đồng tính nào cũng có được môi trường sống tương đối an toàn như những người đồng tính ở phố Castro.

Trên toàn thế giới, từ ngàn xưa cho đến nay, người đồng tính luôn luôn là nạn nhân của bất công và kỳ thị. Những đối xử công bằng và đúng đắn với người đồng tính chỉ mới bắt đầu xuất hiện gần đây: nhà thờ Episcopal bán chính thức thừa nhận những nhóm tín đồ đồng tính; nhà thờ United Methodist công nhận người đồng tính cũng có giá trị tâm linh như người dị tính; một số nhà thờ Do Thái giáo cấp tiến ủng hộ hôn nhân đồng tính.

Hiện nay khoa học ngày càng tiến xa và đã cung cấp được cho nhân loại những kiến thức mới về mọi lĩnh vực, trong đó có vấn đề tính dục, kết quả là ngày càng có nhiều người có được những kiến thức mới đó và tham gia vào các phong trào đòi hỏi nhân quyền cho người đồng tính.

1. Đồng Tính Luyến Ái Không Phải Là Một Bệnh

Bệnh là một xáo trộn về thể chất hay tâm lý có thể gây ra tử vong, hoặc đau đớn, khó chịuu, khổ sở, hoặc gây trở ngại đến khả năng làm việc, học hành, vui sống của người bệnh. ĐTLA không phải là một xáo trộn về thể chất hay tâm lý, không gây ra đau đớn, khó chịu, khổ sở, và không hề gây suy giảm cho khả năng làm việc, học hành, hoặc vui sống của người đồng tính, cũng chẳng gây ra tai hại gì cho bất cứ ai.

Chiếm khoảng từ 5% đến 10% dân số của nhân loại, người đồng tính có mặt trong mọi cộng đồng nhân loại từ thượng cổ, không phân biệt chủng tộc. Người đồng tính cũng có mặt trong mọi lĩnh vực sinh hoạt của loài người: họ là những kỹ sư, công nhân, bác sĩ, nhạc sĩ, khoa học gia, chiến sĩ, tu sĩ, chính trị gia, tướng lãnh… ít nhất vài người trong số họ đã làm tới chức cao nhất trong giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã, đó là các giáo hoàng Benedict IX (1020-1055), John XXII (1249-1334), Sixtus IV (1414-1484), và Pius XII (1876-1958).

Bên cạnh những danh nhân, người đồng tính cũng có mặt trong nhà tù, cũng có người tốt, người xấu, người lành, người ác, người đúng đắn, người xàm xỡ, người nhã nhặn, người lố lăng… y như trong cộng đồng dị tính. Vì vậy ĐTLA không phải là một bệnh. Đây là quan điểm chính thức của y học, và từ năm 1973, ĐTLA đã được loại khỏi Cẩm Nang Chẩn Đoán và Thống Kê Bệnh Tâm Thần (DSM-II, hiện nay là DSM IV-TR) của khoa Thần Kinh tâm Trí Mỹ.

Kiến thức căn bản của khoa học ngày nay là chỉ những người đồng tính, do chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa và tôn giáo, đau khổ với tính dục của mình và chọn cách sống giả dối theo số đông, mới cần được chữa trị để có thể vui sống bình thường như những người đồng tính cũng như dị tính khác trong xã hội.

2. ĐTLA Không Chữa Được Và Không Cần Chữa

Phản ứng đầu tiên của một số người khi phát hiện thân nhân của mình đồng tính là hốt hoảng, không tin, và sau đó tìm cách “chữa chạy”. Như đã nói ở trên, ĐTLA không phải là một bệnh và vì vậy không cần chữa và không chữa được. Tất nhiên luôn luôn có những người và tổ chức sẵn sàng cung cấp những chương trình chữa trị hết sức tốn phí nhưng kết quả có lẽ cũng không tưởng y như việc “điều trị” cho người dị tính luyến ái trở nên ĐTLA.

Trong thực tế, ngoài những người đồng tính đau khổ với tính dục tự nhiên của mình, những người dị tính thù ghét người đồng tính cũng chính là những người cần được giúp đỡ để có thể thoát khỏi nọc độc của vô minh và đối xử công bằng vớ những người khác biệt với mình trong xã hội.

3. ĐTLA Không Phải Là Thiếu Nhi Dục

Vụ tai tiếng khắp thế giới về các linh mục lạm dụng tình dục với trẻ em, trong đó có nhiều trẻ trai, đã làm mờ nhạt sự khác biệt giữa ĐTLA và thiếu nhi dục (pedophilia). Như đã nói ở trên, ĐTLA không phải là một bệnh, và quan hệ tình dục thuận ý giữa hai người trưởng thành là hoàn toàn bình thường, không phân biệt đồng tính hay dị tính. Trái lại, thiếu nhi dục (hiện tượng người lớn ham muốn tình dục với trẻ em, nhất là trẻ em chưa đến tuổi phát dục) là một bệnh (liệt kê trong Cẩm Nang Chẩn Đoán và Thống Kê Bệnh Tâm Thần), và nếu người bệnh có hành vi thực hiện ham muốn tình dục đó, họ sẽ trở thành tội phạm hình sự. Trong số những bệnh nhân thiếu nhi dục, có cả người dị tính lẫn người đồng tính. Trong thực tế số người dị tính lạm dụng tình dục trẻ em đông hơn nhiều so với số người đồng tính phạm tội này, người phạm tội đồng tính thường chỉ thu hút sự chú ý của dư luận quần chúng hơn mà thôi.

4. Một Vài Đề Nghị

Khi đề cập đến người đồng tính, người dị tính thường phân biệt “người đồng tính” và “người bình thường” (tức là người dị tính). Điều này sai và có ý nghĩa kỳ thị, vì đồng tính và dị tính đều là bình thường, đều là bẩm sinh, tức là Trời sinh, con người không có sự lựa chọn nào trong việc quyết định dục tính của bản thân mình. Vì vậy các vị phụ huynh nên bỏ ý nghĩ có thể “chữa trị” cho con em đồng tính của mình trở thành dị tính. Trong quá khứ người ta đã thử tất cả những cách có thể tưởng tượng ra được để “chữa trị” “bệnh đồng tính” kể cả phương pháp chữa trị bằng giật điện man rợ, bằng thuốc, bằng tâm lý, bằng tôn giáo… Đó là chưa kể những biện pháp trừng phạt dã man thời trung cổ ở Âu châu và Trung Đông để tiêu diệt và răn đe người đồng tính. Tất cả đều vô ích, người đồng tính vẫn đồng tính và vẫn tồn tại như những người có tính dục khác của cộng đồng nhân loại.

Một số phụ huynh Việt Nam nghĩ con em mình đồng tính vì ảnh hưởng xấu của văn hóa suy đồi hoặc bị “lây” từ những người đồng tính khác. Có người không ngần ngại dọn nhà từ địa phương này sang địa phương khác để tách con cái ra khỏi “môi trường xấu”. Điều này không mang lại kết quả gì vì trạng thái đồng tính hay dị tính là bẩm sinh. Người dị tính chơi với bạn bè đồng tính không thể biến thành đồng tính, và ngược lại, người đồng tính chơi với bạn bè dị tính cũng không thể biến thành dị tính. Điều này cũng đơn giản như người da vàng chơi với người da đen thì không thể nào biến thành da đen được. Nếu môi trường sống có thể ảnh hưởng đến tính dục thì có lẽ đã không có người đồng tính, vì người đồng tính dù ở bất cứ quốc gia nào cũng sống trong ảnh hưởng áp đảo của văn hóa dị tính.

Ngoài ra, ĐTLA không có tính cách di truyền. Bất cứ cặp vợ chồng dị tính nào cũng có môt khả năng nhỏ sinh con đồng tính (gần như tất cả mọi người đồng tính đều được sinh ra bởi các bố mẹ dị tính), dù bố mẹ có ghê sợ đồng tính đến đâu. Một trong số rất nhiều thí dụ là vợ chồng phó Tổng Thống Mỹ thứ 46 Dick Cheney là những người bảo thủ, chống đồng tính, nhưng lại có con gái (Mary Cheney) là người đồng tính. Nếu người đồng tính miễn cưỡng sinh hoạt dục tình với người khác phái thì họ cũng có thể sinh con và con cái của họ cũng có khả năng trở thành dị tính hay đồng tính, hay lưỡng tính, y như con cái của tất cả mọi người khác trong xã hội.

Nhiều phụ huynh tin rằng nếu người đồng tính lập gia đình họ sẽ hết “bệnh” đồng tính. Niềm tin này dẫn đến những cuộc hôn nhân dối trá và hậu quả tai hại. Cưỡng ép, trực tiếp hay gián tiếp, một người đồng tính lấy vợ hay lấy chồng là hành động phá hoại cuộc đời của không phải chỉ người đó mà cả thiếu nữ hay thanh niên người đó miễn cưỡng lấy làm vợ hay chồng để làm vui lòng gia đình và xã hội.

Trong văn hóa Việt Nam, nhờ bản chất hiếu hoà của người Việt, người đồng tính Việt Nam tương đối được an toàn hơn người đồng tính ở Âu Mỹ. Do ảnh hưởng khắc nghiệt của tôn giáo, người đồng tính ở Âu châu và Trung Đông luôn luôn bị kỳ thị và bức hại một cách dã man. Mặc dù vậy, tình trạng người đồng tính, cũng như người lùn, người mập, người nói giọng địa phương nào đó… thường bị đưa ra làm trò cười trong các băng video thực hiện ở hải ngoại cũng như trong nước cho thấy trình độ văn hóa thấp kém của một số người Việt. Về phương diện này chúng ta lạc hậu hơn Âu Mỹ hàng 30 năm. Từ khoảng 30 năm gần đây khán giả Âu Mỹ đã không chấp nhận những kiểu khôi hài xúc phạm nhân phẩm người khác như vậy nữa.

Sau hết, người dị tính không nên ghét, cũng không nên thương người đồng tính chỉ vì tính dục của họ mà chỉ nên thương hoặc ghét vì tư cách hoặc cá tính của từng người, giống như tình cảm thương hoặc ghét giữa những người dị tính với nhau. Tóm lại, chúng ta nên loại bỏ hoàn toàn yếu tố tính dục ra khỏi nền tảng của thiện cảm hay ác cảm cũng như nếp suy nghĩ và cách đối xử với mọi người chung quanh.

Phụ huynh hoặc những người quan tâm muốn tìm hiểu vấn đề đồng tính để được giải đáp những thắc mắc, những điều nên làm, nên tránh trong việc đối xử với con em hoặc bạn bè, người thân đồng tính của mình nên liên lạc với hội PFLAG (Parents, Families, and Friends of Lesbians and Gays/Hội Phụ Huynh, Gia Đình và Thân Hữu của Người Đồng Tính) ở những số điện thoại và trang nhà dưới đây:

San Jose: (408) 270-8182, www.pflagsanjose.com

San Francisco: (415) 921-6902, www.backdoor.com/pflagsf

5. Một Số Danh Từ Thông Thường Về Các Nhóm Tính Dục

Đồng Tính Luyến Ái/homosexual, (chữ dùng từ năm 1868): người có ham muốn tình dục với người đồng phái. Bao gồm người đồng tính nam/gay men và đồng tính nữ/lesbian. Về phương diện cơ thể học, người đồng tính có cơ quan sinh dục và khả năng sinh sản y như người dị tính. Chiếm khoảng 5-10% nhân loại.

Dị Tính Luyến Ái/heterosexual, (chữ dùng phổ biến từ thập niên 1930): người có ham muốn tình dục với người khác phái, chiếm khoảng 90-95% nhân loại.

Lưỡng Tính Luyến Ái/bisexual: người có ham muốn tình dục với cả người đồng phái lẫn người khác phái. Về phương diện cơ thể học, người lưỡng tính cũng không có gì khác biệt so với người đồng tính hay dị tính.

Hoán Tính/transsexual, transgendered: người mang hình hài và cơ quan sinh dục của một giới (bất kể là giới nào), nhưng lại có ham muốn tình dục với một giới khác và muốn có cơ quan sinh dục là đối tượng tình dục của giới đó. Thí dụ đàn ông, có cơ quan sinh dục nam, nhưng thực sự là nữ giới, ham muốn tình dục với nam giới, và mong muốn có được cơ quan sinh dục nữ. Hoặc ngược lại, đàn bà có cơ quan sinh dục nữ, nhưng thực sự là đàn ông, ham muốn tình dục với nữ giới, và mong muốn có được cơ quan sinh dục nam. Hiện nay y học đã tiến rất xa trong lĩnh vực này và đã có không ít người hoán tính trên thế giới nhờ phẫu thuật để trở thành dị tính, nghĩa là có bộ phận sinh dục nam hoặc nữ theo ý muốn. Thomas Beatie, người đàn ông mang bầu và sinh con tháng 7-2008 tại bang Oregon, Mỹ, là một trường hợp nổi tiếng về hoán tính: sinh ra là nữ, Thomas đã giải phẫu để trở thành đàn ông, lấy vợ, nhưng vẫn giữ cơ quan sinh sản và đã sinh được một bé gái nhờ phương pháp thụ tinh nhân tạo.

Hoán Trang/transvestite: người bất kể thuộc giới tính nào, thích mặc quần áo của giới khác. Thí dụ đàn ông dị tính, có ham muốn tình dục với phụ nữ, nhưng lại thích mặc quần áo phụ nữ, thường là quần áo lót mặc dấu dưới quần áo đàn ông bên ngoài. Nhiều người đàn ông dị tính hoán trang thích mặc quần áo lót phụ nữ trong lúc giao hoan.

(Viet Mercury, San Jose, California, số 176, ngày 7 tháng Sáu, 2002)


Để lại phản hồi

Advertisement