Chương 9 Công tác xã hội:Lý thuyết và thực hành
By VNSW - Tue Oct 19, 10:08 pm
- 0 nhận xét
- 0 lượt xem
- Tweet
Email
Print

VNSW xin trân trọng giới thiệu Chương 9 với tiêu đề Thi hành kế hoạch, trong Tập tài liệu Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành của tác giả Trần Đình Tuấn, ĐH San Jose, Hoa Kỳ:
Kế hoạch sau khi lập xong sẽ được thi hành, tức là tiến hành những hoạt đông hay việc đã đề ra. Có thể chia các việc này ra làm hai loại: trực tiếp và gián tiếp. Việc trực tiếp là việc nhắm vào những thay đổi từ cá nhân khách hàng hay từ gia đình. Việc gián tiếp là việc nhằm thay đổi những đối tượng khác, thí dụ những cá nhân, tổ chức, cơ quan hay nhóm trong cộng đồng. Tất cả những việc này phải hướng đến mục tiêu của kế hoạch và phải tuân theo những nguyên lý chỉ đạo như sau:
1) Tiết kiệm: ít tốn thì giờ và năng lực của khách hàng và của nhân viên CTXH. Nếu có thể đạt được kết quả tương tự bằng nhiều cách khác nhau, cách tiết kiệm nhất phải được chọn. Thí dụ nếu có thể giới thiệu khách hàng đến nhiều chương trình giáo dục nghệ thuật làm cha mẹ khác nhau, nhân viên CTXH sẽ giúp khách hàng chọn trung tâm có uy tín nhất, học phí rẻ nhất, và thuận tiện cho khách hàng đi học nhất.
2) Quyền tự do chọn lựa của khách hàng: khách hàng có quyền chọn lựa phương cách phù hợp nhất với ý thích, văn hóa, tôn giáo, lối sống, nhu cầu, thế mạnh, thế yếu… của mình. Trở lại thí dụ trên, nếu khách hàng không muốn đi học lớp giáo dục nghệ thuật làm cha mẹ ở gần nhà và học phí rẻ, ý muốn của họ sẽ được tôn trọng.
3) Phần việc của nhân viên CTXH có tính cách hỗ trợ cho khách hàng, để khách hàng có thể hoàn tất phần việc của họ.
Sau đây là các loại việc nhân viên CTXH có thể làm:
1. Giúp khách hàng dùng được những tài nguyên trong cộng đồng để giải quyết vấn nạn:
Đây là một trong những khó khăn lớn nhất của khách hàng, họ có thể cần đi cai rượu hay ma túy nhưng không biết cai ở đâu, thủ tục đăng ký như thế nào. Nhân viên CTXH phải không ngừng nâng cao kiến thức của mình về mạng lưới tài nguyên trong vùng hoạt động. Đối với ngành CTXH còn non trẻ như ở Việt Nam, mạng lưới tài nguyên xã hội còn đơn sơ, trách nhiệm chung của tất cả những nhân viên CTXH là vận động, phát triển cộng đồng để xây dựng mạng lưới tài nguyên CTXH rộng lớn cho phù hợp với nhu cầu của xã hội. Đây là công việc hết sức quan trọng, vì có thể ví mạng lưới tài nguyên CTXH như một lưới bắt cá, và vấn nạn của con người chính là những con cá bơi lội trong đó.
Để giúp khách hàng dùng được tài nguyên, nhân viên CTXH phải biết thủ tục, điều kiện ghi danh của các tài nguyên. Nếu khách hàng có trở ngại trong việc sử dụng tài nguyên, nhân viên CTXH phải có khả năng giúp khách hàng vượt qua các trở ngại đó. Trở ngại có thể do khó khăn của bản thân khách hàng, thí dụ thiếu tự tin, không được gia đình hỗ trợ, không có phương tiện di chuyển… trong những trường hợp này nhân viên CTXH có trách nhiệm giúp khách hàng nâng cao niềm tin vào khả năng của mình, thuyết phục gia đình để khách hàng có được sự hỗ trợ của gia đình… Ngoài ra, trở ngại còn có thể do các tiêu cực từ nguồn tài nguyên. Trong trường hợp này nhân viên CTXH phải sẵn sàng giữ vai trò của người đại diện, tranh đấu cho quyền lợi của khách hàng, để khách hàng sử dụng được tài nguyên một cách bình đẳng.
Tạo năng lực cho khách hàng/empowerment:
Tạo năng lực “là một quá trình nhằm tăng quyền lực cá nhân, chính trị, và cộng đồng của một người nhằm giúp người đó có thể tự hành động để thăng tiến hoàn cảnh sống của mình” (Lorraine Gutierrez, 1990). Tạo năng lực là chiến lược quan trọng của nhân viên CTXH khi phục vụ khách hàng thuộc các thành phần thiểu số bị đối xử bất công trong xã hội, thí dụ người già, phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người đồng tính, người dân tộc, người nghèo, người bệnh. Đối với xã hội đang phát triển nhanh chóng như Việt Nam, sự cách biệt giữa người giàu và người nghèo rất lớn, sự phân biệt đối xử dựa trên giàu nghèo cũng rất lớn và phổ biến, nhân viên CTXH có trách nhiệm giúp tạo năng lực cho người nghèo và tất cả các thành phần thiểu số để họ mạnh dạn chống lại những đối xử bất công, làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
Công tác tạo năng lực bao gồm giáo dục, động viên, trợ giúp để khách hàng có được tự tin và khả năng để tiếp xúc với các nguồn tài nguyên trong cộng đồng. Cung cấp thông tin để khách hàng hiểu biết về các tài nguyên có thể vận dụng; làm cho khách hàng hiểu họ chính là chuyên gia về vấn nạn, về cuộc đời, và về hoàn cảnh sống hiện tại của bản thân họ; làm giảm mặc cảm tội lỗi, tự than thân trách phận của khách hàng; huấn luyện phương pháp suy nghĩ tích cực/positive thinking, và ứng xử liệu pháp/behavioral therapy… là một số cách để nhân viên CTXH tạo năng lực cho khách hàng.
2. Hành động trong trường hợp khủng hoảng
Khủng hoảng là khi xảy ra một tình trạng hay sự kiện làm cho khách hàng bị mất thăng bằng, không còn khả năng ứng phó như lúc bình thường. Tùy theo loại khủng hoảng, khách hàng có thể là cá nhân, gia đình, cộng đồng, quốc gia, hay toàn thể nhân loại (thí dụ bệnh dịch giữa thế kỷ 14 khởi đầu từ Trung Quốc đã giết hơn 60 triệu người Hoa, 25 triệu người Âu và 10 triệu người Phi châu; hai cuộc thế chiến trong nửa đầu của thế kỷ 20).
Đối với cá nhân, khủng hoảng là một phần của đời sống: ốm đau, bắt đầu đi học, tuổi dậy thì, thi cử, lập gia đình, đi làm, mất việc, sinh con, thăng chức, mất chức, tang chế…đều có thể là những khủng hoảng mọi người đều phải trải qua trong quá trình trưởng thành như Freud và Erik Erikson đã mô tả. Khi khủng hoảng diễn ra, con người vận dụng tất cả khả năng và tài nguyên có thể vận dụng được để đối phó. Khi nỗ lực này thất bại, hoặc khi khủng hoảng quá lớn làm tê liệt khả năng ứng phó, sự can thiệp từ bên ngoài là cần thiết. Các tình trạng khủng hoảng thường kéo dài trung bình từ sáu đến tám tuần lễ, sau thời gian này, nếu người gặp khủng hoảng không tự giải quyết được khủng hoảng và không được giúp đỡ từ bên ngoài, hậu quả sẽ là suy giảm khả năng sinh tồn (tức là khả năng suy nghĩ, làm việc, giải quyết khó khăn trong cuộc sống).
Khi hành động trong trường hợp khủng hoảng, nhân viên CTXH trước hết tìm hiểu khủng hoảng, các biến cố dẫn đến khủng hoảng, các biện pháp ứng phó mà khách hàng đã thực hiện. Song song với việc tìm hiểu này, nhân viên CTXH thiết lập mối quan hệ chuyên nghiệp với khách hàng, giúp khách hàng phân tích ưu khuyết điểm, củng cố ưu điểm, nhận định các nguồn tài nguyên và tìm ra giải pháp ứng phó với khủng hoảng. Trong suốt quá trình này, nhân viên CTXH luôn khuyến khích khách hàng biểu lộ cảm xúc liên hệ đến khủng hoảng để hỗ trợ tinh thần và giới thiệu khách hàng đến các nguồn tài nguyên liên hệ nếu khách hàng có triệu chứng trầm cảm cao độ có thể dẫn đến nguy hiểm cho sự an toàn của bản thân.
Thông thường trong thời gian từ sáu đến tám tuần lễ làm việc, nhân viên CTXH sẽ giúp khách hàng trải qua khủng hoảng, khám phá tiềm năng ứng phó mới, củng cố cơ chế tự vệ tâm lý và trở này dày dặn hơn, trưởng thành hơn.
Trong những trường hợp khủng hoảng nghiêm trọng, khách hàng hoàn toàn mất khả năng ứng phó và có thể có hành vi gây nguy hại cho bản thân hay cho những người chung quanh, nhân viên CTXH có thể phải hành động đơn phương, kịp thời, không cần sự hợp tác của khách hàng. Ở Mỹ, trong trường hợp khách hàng rơi vào một trong ba khủng hoảng sau đây, một số người làm việc chuyên môn trong đó có nhân viên CTXH, được phép tạm đưa khách hàng vào dịch vụ y tế tâm thần khẩn cấp để nhân viên y tế theo dõi: 1) Có thể có hành vi nguy hại cho bản thân. 2) Có thể có hành vi nguy hại cho người khác. 3) Không có khả năng tự chăm sóc bản thân (thí dụ không ăn uống, tắm rửa trong nhiều ngày…). (Xem thêm chương 3, phần Lý Thuyết Về CTXH Trong Những Tình Huống Khủng Hoảng).
3. Hành động hỗ trợ
Hỗ trợ luôn luôn là phần quan trọng của mọi hình thức giúp đỡ, chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp. Judith Nelson (1980) định nghĩa hỗ trợ là hoạt động giúp cho khách hàng cảm thấy dễ chịu, khỏe mạnh, và thoải mái hơn. Theo Nelson, có bốn hình thức hỗ trợ: 1) bảo vệ: cho ý kiến, lời khuyên, giúp khách hàng hiểu được những giới hạn, và hiểu được những tình huống hay sự kiện phức tạp; 2) chấp nhận: giúp khách hàng chấp nhận vấn nạn của mình và chấp nhận mối quan hệ giúp đỡ nhưng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau với nhân viên CTXH; 3) Tập trung vào ưu điểm: giúp khách hàng thấy được những ưu điểm của bản thân, khuyến khích và ca ngợi những việc làm đúng của khách hàng; 4) giáo dục: cung cấp thông tin, hướng dẫn để khách hàng nâng cao kiến thức và khả năng ứng phó. Một trong những kỹ năng cơ bản của nhân viên CTXH là làm cho khách hàng thấy được vai trò hỗ trợ của mình ngay từ đầu, thiếu kỹ năng này sẽ khó có thể làm việc hiệu quả với khách hàng.
Điều quan trọng trong khi hỗ trợ khách hàng là sự hỗ trợ phải trung thực và chính đáng. Lạm dụng hỗ trợ sẽ làm hỗ trợ mất ý nghĩa hoặc làm cho khách hàng lệ thuộc vào nhân viên CTXH, nghĩa là đi ngược lại mục đích của CTXH. Hỗ trợ phải làm tăng khả năng tự lập của khách hàng để khách hàng có thể tự giải quyết vấn nạn của mình trong tương lai mà không cần đến sự hỗ trợ, giúp đỡ của xã hội. Chính vì vậy, trong khi hỗ trợ khách hàng, nhân viên CTXH cũng chú trọng giúp khách hàng xây dựng mạng lưới hỗ trợ cá nhân, bao gồm gia đình, họ hàng, bạn bè, lối xóm, chùa, nhà thờ… và các tài nguyên khác trong cộng đồng.
Các nhóm hỗ trợ là một hình thức hỗ trợ rất hiệu quả nhưng chưa được phổ biến nhiều ở Việt Nam. Ở Âu, Mỹ có thể nói người có bất cứ một vấn đề khó khăn hay một quan tâm, ý thích nào cũng có thể tìm được một nhóm những người đồng cảnh ngộ hay mối quan tâm để chia xẻ thông tin, học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau. Thí dụ hội những người có con em bị bệnh tự kỷ, hội thân nhân bạn bè của người đồng tính, hội những người muốn bỏ cờ bạc, hội những nhà thiên văn tài tử… Đây là một lĩnh vực hoạt động quan trọng của nhân viên CTXH cộng đồng ở Việt Nam: thành lập những nhóm hỗ trợ để những người có cùng vấn nạn gia đình, xã hội có thể gặp gỡ, chia xẻ kinh nghiệm và giúp đỡ lẫn nhau. Thí dụ nhóm nạn nhân của bạo hành trong gia đình, nhóm thân nhân của những người nghiện cờ bạc hay ma túy, nhóm những người bạo hành…
Hành động trung gian môi giới/mediation:
Trong một số trường hợp, khách hàng gặp khó khăn trong quan hệ với những đối tượng có liên quan trong môi trường (thí dụ người trong gia đình, cơ quan, tổ chức, nguồn tài nguyên…) vì vậy không thể hoàn thành được phần việc của mình và không đạt được mục tiêu của kế hoạch. Trong những trường hợp này, nhân viên CTXH sẽ giữ vai trò trung gian môi giới để giúp khách hàng và các đối tượng khắc phục khó khăn, hiểu nhu cầu và khả năng của nhau, có được quan hệ hợp tác tốt đẹp và hoàn tất được phần việc cần làm của mỗi bên. Thí dụ: trung gian môi giới giữa khách hàng là cha mẹ và con cái để hai bên có thể nói chuyện được với nhau một cách ôn tồn và để cha mẹ có thể uốn nắn con cái mà không cần đến biện pháp bạo hành. Thí dụ khác: trung gian môi giới giữa hai bên cha mẹ ly dị để chia xẻ quyền nuôi và thăm con. Đây là công việc rất khó khăn mà toà án gia đình ở các nước có ngành CTXH phát triển hoàn toàn trông cậy vào khả năng chuyên môn của nhân viên CTXH. Trong những trường hợp này, nhân viên CTXH giữ vai trò trung lập giữa hai bên cha mẹ, giúp họ giảm thiểu tối đa những thiệt thòi do ly dị gây ra cho các đứa con.
4. Gây ảnh hưởng
Gây ảnh hưởng là “dùng khả năng của mình để tạo ra một hậu quả nào đó cho người, nhóm, hay tổ chức nào đó” (Irving Spergel, 1969). Ảnh hưởng có thể rất mạnh, tạo ra được sự thay đổi, khuyến khích, thuyết phục, động viên… để đối tượng có được hành động nào đó nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong kế hoạch. Nền tảng của ảnh hưởng là kiến thức, kinh ngiệm, và tinh thần làm việc nghiêm túc của nhân viên CTXH và của cơ quan chủ quản. Những đặc điểm này làm cho nhân viên CTXH được khách hàng và các đối tượng khác kính trọng và nhờ vậy mới gây được ảnh hưởng. Ở California, nơi có ngành CTXH khá phát triển, các đoàn thể nghề nghiệp (như Hội Nhân viên CTXH Quốc Gia) và các cơ quan CTXH đều hết sức chú trọng bảo vệ uy tín của tổ chức và của nghề CTXH. Những nhân viên CTXH có hành vi vi phạm Nội Quy Về Đạo Đức Nghề Nghiệp CTXH (phụ bản A) đều bị chế tài một cách nghiêm khắc, từ cảnh cáo đến thu hồi chứng chỉ hành nghề, và truy tố ra trước toà án tùy theo vi phạm nặng hay nhẹ. Biện pháp quản lý chặt chẽ và nghiêm chỉnh này tạo uy tín cho ngành CTXH và nhân viên CTXH, và nhờ vậy giúp nhân viên CTXH gây được ảnh hưởng cần thiết trong công việc.
5. Thay đổi môi trường
Để đạt được cuộc sống tốt đẹp hơn cho khách hàng, ngoài việc giúp khách hàng thay đổi, có khi nhân viên CTXH còn phải tạo ra sự thay đổi trong môi trường sống của khách hàng. Trong một số trường hợp, thay đổi môi trường là mục tiêu duy nhất của CTXH, khách hàng không cần thay đổi, thí dụ phong trào “Nhà Định Cư” do Jane Addams phát động ở Mỹ năm 1889 (phỏng theo mô hình Toynbee Hall, London 1884) đã làm thay đổi đáng kể những khu nhà ổ chuột bẩn thỉu, chật chội, nơi định cư của những di dân nghèo khổ tại các thành phố lớn trên khắp nước Mỹ cuối thế kỷ 19. (Xem lại chương 1: Sự Hình Thành Của Nghề CTXH Tại Mỹ).
Công việc thay đổi môi trường thường phức tạp, khó khăn, đòi hỏi nhân viên CTXH khả năng vận động, thuyết phục, thương lượng… với những đoàn thể, tổ chức, và cá nhân có quyền lực trong cộng đồng để đạt được những thay đổi có ích lợi cho khách hàng. Thí dụ vận động chính quyền và hội phụ nữ lập nhà tạm trú cho nạn nhân của bạo hành trong gia đình. Thuyết phục gia đình hay nguồn tài nguyên nào đó trợ giúp (nếu gia đình không có khả năng tài chính) thực hiện đường xe lăn để khách hàng có thể tự mình ra khỏi nhà hoặc trở về bằng xe lăn một cách dễ dàng, không cần người khác giúp đỡ. Vận động trường học để có được quy định chặt chẽ nhằm ngăn ngừa tình trạng khách hàng yếu đuối hoặc khuyết tật, bị bắt nạt…
Ở những nước phát triển sau như Việt Nam, thay đổi môi trường để những người khuyết tật có thể sống, đi lại và làm việc độc lập là địa bàn hoạt động gần như còn bỏ ngỏ cho những nhân viên CTXH. Ở California, người điếc được cung cấp miễn phí điện thoại đặc biệt có bộ phận khuếch đại âm thanh, tất cả các kiến trúc công cộng, kể cả lề đường, đều phải xây cất thế nào để người sử dụng xe lăn có thể tự mình đi lại dễ dàng, một số ngã tư đường nơi người mù qua lại, có gắn thiết bị âm thanh để người mù biết khi nào có thể sang đường một cách an toàn. Ở Bắc Âu, người khuyết tật còn được chăm sóc chu đáo hơn California và Mỹ.
6. Hoạt động điều phối
Khi khách hàng cần sự giúp đỡ của hai hay nhiều người, cơ quan, tổ chức khác nhau nhân viên CTXH sẽ phải làm công việc điều phối để hoạt động của các đối tượng khác nhau này ăn khớp với kế hoạch giúp đỡ chung. Thí dụ khách hàng là một người cao niên cần được gia đình chăm sóc chu đáo hơn, cần bác sĩ khám bệnh, nha sĩ khám răng, tham gia các sinh hoạt ở hội phụ lão… Thiếu hoạt động điều phối, mỗi đối tượng dù làm việc đúng chức năng có thể cũng không giúp khách hàng có được cuộc sống tốt đẹp hơn. Thí dụ bác sĩ khám bệnh và cho toa đúng nhưng bệnh nhân không có tiền mua thuốc, hoặc gia đình lơ là việc cho uống thuốc đúng liều lượng; hội phụ lão có chương trình sinh hoạt thích hợp nhưng khách hàng không có phương tiện di chuyển đến trụ sở hội…
Yếu tố quan trọng nhất trong hoạt động điều phối là đối thoại đúng mức. Không có hoặc có quá ít đối thoại hoặc quá nhiều đối thoại đều làm cản trở hoạt động giúp đỡ của các đối tượng. Đối thoại đúng mức là đối thoại cung cấp các thông tin cần thiết để các đối tượng biết mục tiêu và diễn tiến công việc của nhau, các khó khăn có thể cùng nhau giải quyết, tránh cung cấp những dịch vụ trùng lắp. Hoạt động điều phối là hoạt động chính trong kỹ thuật quản lý trường hợp.
Quản lý trường hợp/case management:
Quản lý trường hợp là phương pháp được áp dụng rộng rãi trong CTXH và trong y khoa. Phương pháp quản lý trường hợp lấy toàn bộ hoàn cảnh sống của khách hàng làm trọng tâm, và trách nhiệm chính của người quản lý trường hợp là lượng giá/assess được toàn bộ những nhu cầu của khách hàng, xác định tài nguyên, và điều phối hoạt động của nhiều nguồn tài nguyên khác nhau trong gia đình, cộng đồng, từ bản thân khách hàng, để khách hàng được thỏa mãn những nhu cầu và có cuộc sống tốt đẹp hơn. Thí dụ: một khách hàng cao niên khi đến bệnh viện thì bệnh viện chỉ chữa cho khỏi bệnh, nhưng bệnh tật không phải là vấn nạn duy nhất, khách hàng còn cần tiền mua thuốc, cần chỗ ở vì ở nhà bị con cháu bạc đãi, cần thức ăn hàng ngày, cần phương tiện đi lại, cần bạn bè, cần được con cháu thăm viếng… Bệnh viện chỉ là một trong nhiều nguồn tài nguyên khách hàng cao niên này cần, những tài nguyên khác có thể là viện dưỡng lão, hội phụ lão địa phương, chính quyền, những nhà hảo tâm trong cộng đồng, bà con lối xóm, gia đình của khách hàng (con cháu có thể cần khuyên bảo, thuyết phục, tư vấn, để đối xử với khách hàng một cách tốt đẹp hơn).
Quản lý trường hợp nhắm hai mục đích: 1) Cá nhân hóa kế hoạch giúp đỡ và điều phối hoạt động của các nguồn tài nguyên để kế hoạch giúp đỡ được tiến hành một cách hữu hiệu. 2) Ngoài ra quản lý trường hợp còn bảo đảm các dịch vụ được cung cấp với hiệu quả cao nhất và tốn kém ít nhất. Để đạt được hai mục đích kể trên, công tác quản lý trường hợp được tiến hành qua bốn công đoạn: lượng định/assessment; kế hoạch/planning; giới thiệu, móc nối linking, making referral; và theo dõi để chấn chỉnh/monitoring.
Công tác quản lý trường hợp đòi hỏi người làm công tác quản lý trường hợp có kiến thức về:
- Tâm lý và quan hệ cá nhân và gia đình.
- Tác động và ảnh hưởng của các yếu tố xã hội, tâm lý, vật lý và kinh tế đối với cuộc sống của con người.
- Chính sách, mục tiêu, và nội quy của cơ quan thuê mướn nhân viên CTXH.
- Chính sách và luật lệ của Nhà Nước liên hệ đến cơ quan và dịch vụ do cơ quan cung cấp.
- Các nguồn tài nguyên có thể vận dụng trong cộng đồng.
Bên cạnh kiến thức, người làm công tác quản lý trường hợp cần những kỹ năng sau:
- Kỹ năng làm việc hữu hiệu với khách hàng để khách hàng xây dựng và phát triển khả năng tự giúp đỡ, tiến đến cuộc sống tốt đẹp hơn. Phần quan trọng nhất trong kỹ năng này là kỹ năng động viên, làm cho khách hàng có sức mạnh và ý chí/empower để tích cực tham dự vào việc xác định nhu cầu và lập kế hoạch giúp đỡ.
- Kỹ năng làm việc hữu hiệu với những người giúp đỡ thuộc nhiều ngành nghề khác nhau, kể cả thân nhân của khách hàng.
- Kỹ năng xác định nhu cầu của khách hàng.
- Kỹ năng giữ hồ sơ chính xác và rõ ràng.
- Kỹ năng vận động thiết lập tài nguyên cộng đồng để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Tùy theo nhu cầu của khách hàng, có thể chia quản lý trường hợp ra làm ba cấp:
1) Cấp thấp: Quản lý trường hợp hành chính/Administrative case management: dành cho những khách hàng có khả năng tự lập cao, chỉ cần giới thiệu đến một vài nguồn tài nguyên, từ đó khách hàng tự lo lấy cuộc sống, thỉnh thoảng khi có việc không giải quyết được mới cần đến sự giúp đỡ của người quản lý. Thí dụ bệnh nhân tâm thần đã ổn định chỉ cần mỗi tháng đi gặp bác sĩ lấy thuốc một lần, chỗ ăn ở đã được sắp xếp xong.
2) Cấp trung bình: Điều phối tài nguyên/Resource coordination: dành cho những khách hàng khá ổn định nhưng vẫn cần sự theo dõi, giúp đỡ thường xuyên của nhân viên CTXH.
3) Cấp cao: Quản lý trường hợp nặng/Intensive case management: dành cho những khách hàng chưa ổn định, có nhiều nhu cầu và khả năng tự lập kém, thí dụ bệnh nhân tâm thần ra vào nhà thương nhiều lần, không có gia đình chăm sóc, có thể là mối nguy hiểm cho bản thân hay cho những người chung quanh. Người quản lý trường hợp nặng thường phải sẵn sàng giúp đỡ bệnh nhân 24/7, và vì vậy số hồ sơ quản lý thường ít.
Thông thường, tùy theo tình trạng cá nhân, khách hàng có thể được chuyển từ quản lý trường hợp cấp cao xuống cấp thấp hoặc ngược lại.
Điều cần lưu ý là quản lý trường hợp khác với tâm lý trị liệu. Nhiệm vụ chính của người quản lý trường hợp là phát hiện các nhu cầu của khách hàng và giúp khách hàng thỏa mãn các nhu cầu đó bằng cách móc nối với các nguồn tài nguyên để khách hàng có thể có cuộc sống bình thường. Trong quan hệ làm việc này, người quản lý trường hợp có thể cung cấp nhiều ý kiến tư vấn cho khách hàng, về những khía cạnh thông thường trong cuộc sống hàng ngày, tuy nhiên nếu phát hiện khách hàng có những vấn đề tâm lý phức tạp, người quản lý trường hợp có trách nhiệm giới thiệu khách hàng đến những nhà chuyên môn về tâm lý trị liệu. Người quản lý trường hợp thiếu kinh nghiệm có thể phạm lỗi lầm nghiêm trọng khi tự cho mình trách nhiệm giải quyết mọi vấn nạn của khách hàng và cung cấp dịch vụ tâm lý trị liệu mặc dù không được đào tạo chuyên môn để làm công việc đó. Đây là lỗi lầm về đạo đức nghề nghiệp của ngành CTXH.
xXx
- 0 nhận xét
- 0 views
- Tweet
Email
Print

