Mối quan hệ giữa con người với xã hội theo Peter L.Berger
By VNSW - Mon Oct 18, 9:00 pm
- 1 nhận xét
- 0 lượt xem
- Tweet
Email
Print
TRẦN HỮU QUANG
Trong cuốn sách Nhập môn Xã hội học của Tony Bilton và tập thể tác giả (bản dịch tiếng Việt do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 1993), ở Chương 1, trang 34, vào cuối mục viết về “Vị thế, vai trò, chuẩn mực, giá trị và chế tài” (Status, role, norms, values, sanctions), các tác giả có trích dẫn một ý tưởng của Peter L. Berger mà chúng tôi xin tạm dịch lại như sau :
“Xã hội thâm nhập vào chúng ta, đồng thời bao trùm lấy chúng ta. Sự ràng buộc của chúng ta vào xã hội được thiết lập không hẳn bằng sự chinh phục, mà là thông qua sự câu kết… Chúng ta bị mắc vào cái bẫy của cái bản chất mang tính xã hội của chính chúng ta. Những bức tường của cái nhà tù giam hãm chúng ta đã có sẵn ở đấy trước khi chúng ta xuất hiện trên sân khấu [cuộc đời], nhưng chúng cũng được chính chúng ta không ngừng xây dựng lại. Chúng ta bị phản bội và bị cầm tù bởi chính sự hợp tác của chúng ta.” [1]
Đây quả là một lối đúc kết bằng hình tượng khá độc đáo của Peter L. Berger khi đề cập tới mối quan hệ giữa con người với xã hội, đến bản chất xã hội trong con người. Trong bài tiểu luận này, chúng tôi sẽ triển khai lại một số ý tưởng của Peter L. Berger cũng như của các tác giả cuốn Nhập môn Xã hội học nói trên, và sau đó, ở phần cuối, là một vài nhận xét tranh luận với ý kiến của Peter L. Berger mà chúng tôi cho là cần thiết nhằm bổ sung cho một phương pháp luận nghiên cứu xã hội học mang tính toàn diện hơn.
1. Xã hội hóa
Một trong những khái niệm trọng tâm của ngành xã hội học là “xã hội hóa“. Bất cứ thành viên xã hội nào, dù muốn hay không muốn, đều tham gia vào quá trình xã hội hóa ngay từ tấm bé, cho đến hết cuộc đời của mình. Nói một cách ngắn gọn, “xã hội hóa” là quá trình thích nghi với xã hội mà mình đang sống. “Xã hội hóa” chính là quá trình trong đó diễn ra sự “cá nhân hóa” (individualization), hay cũng còn được gọi là “nội tâm hóa” (internalization) các giá trị đạo lý và giá trị xã hội, các qui tắc ứng xử. Nói cách khác, đây là quá trình mà thông qua đó, mỗi cá nhân biến các giá trị và qui tắc của xã hội thành của chính mình.
Cũng tương tự như quá trình học chơi “nhảy lò cò” của một đứa trẻ : lúc đầu, vì chưa thuộc hết luật chơi, nên nó thường phạm lỗi, thường bị bạn bè đồng lứa trách móc, chê cười, hay thậm chí đuổi ra, không cho chơi ; dần dà, một khi nó đã quen với trò chơi và thuộc nằm lòng các qui tắc, thì đến lượt nó, nó sẽ lên tiếng cảnh cáo nếu có đứa bạn nào đó chơi “ăn gian” hoặc vi phạm luật chơi – lúc này, nó bảo vệ luật chơi làm như thể là luật chơi của chính nó vậy.
Các tác giả cuốn Nhập môn Xã hội học nói trên đã mô tả khái niệm “xã hội hoá” như sau : “Thông qua việc cùng học các luật lệ như nhau vốn cấu tạo nên nền văn hóa của chúng ta, chúng ta đều đồng ý với nhau về lối ứng xử và lối suy nghĩ mà chúng ta cho là thích hợp ; sự đồng thuận này (consensus) đảm bảo cho chúng ta có thể sống được với nhau một cách có trật tự” (bản tiếng Anh, trang 16).
2. Vai trò, chuẩn mực, giá trị, chế tài
Khi nói tới quá trình xã hội hóa, nhiều nhà xã hội học đã dùng hình ảnh trò chơi hoặc sân khấu để so sánh. Nói cách khác, “sân khấu” xã hội cũng có những qui luật của nó, “luật chơi” của nó, mà mọi người phải tôn trọng, tùy theo vị trí và vai trò mà mình đóng trong xã hội (“sắm vai” gì). “Kịch bản” đã được định đoạt sẵn từ trước, và khó có ai có thể làm khác đi được : phần còn lại dành cho sự sáng tạo hay năng động của mỗi “diễn viên” có lẽ chỉ là ở chỗ “nhập vai” tốt hơn hay dở hơn mà thôi.
Vào phòng mạch của một bác sĩ, chúng ta chờ đợi (kỳ vọng) là ông ta sẽ hỏi han về sức khỏe, về bệnh tình, cho toa thuốc… chứ chúng ta không thể tưởng tượng nổi là một bác sĩ lại có thể đề nghị chúng ta đánh một ván bài chẳng hạn. Ở các vai trò xã hội khác cũng đều như vậy : một cảnh sát giao thông, một người công nhân quét đường, một thầy giáo, một người cha… mỗi vai trò đều có sẵn một “kịch bản” riêng mà người ta phải tuân theo, nếu không muốn bị xã hội lên án, chê cười (chế tài). Trong cuộc sống, mỗi người chúng ta có thể phải đóng nhiều vai khác nhau, nhưng trong đa số các trường hợp, chúng ta đều buộc phải tuân thủ các qui tắc, chuẩn mực và giá trị mà xã hội đã định đoạt cho từng vai trò đó. Ngày xưa ở Việt Nam, từng có thời mà người thầy giáo không được phép cưới một người học trò làm vợ – vì người ta cho rằng hành động này xâm phạm đến hình ảnh của người thầy, và điều này cũng có nghĩa là có thể làm rối loạn trật tự xã hội.
Trong quá trình xã hội hóa, xã hội có những hình thức chế tài khác nhau (nghĩa là cả khen thưởng lẫn trừng phạt) để buộc từng cá nhân phải tuân thủ theo qui trình này. Lẽ tất nhiên, có những biện pháp hình phạt nặng nhẹ khác nhau, tùy theo lĩnh vực và tùy theo mức độ vi phạm. Nhưng phải nói là cơ chế này có đặc điểm là làm cho cá nhân dần dần tự giác và tự nguyện mà tuân thủ các lề luật, qui tắc của xã hội. Và không chỉ dừng lại ở đó : họ còn “nội tâm hóa” tốt đến mức coi các lề luật và qui tắc đó như của chính mình, mà mình phải bảo vệ, và đấu tranh với người khác để hệ thống chuẩn mực này được tôn trọng.
Chính là trong ý nghĩa đó mà Berger nói rằng chúng ta không hẳn là bị xã hội “chinh phục”, cho bằng là chính chúng ta “câu kết” [hay cũng có thể dịch là "thông đồng"] với xã hội, và chúng ta rơi vào “cái bẫy” mà cái bản chất xã hội trong chính con người chúng ta giăng ra.
Điều này có vẻ như là một nghịch lý, nhưng đó là sự thật : con người chúng ta thường chỉ cảm thấy an toàn khi sống trọn vẹn trong vai trò của mình, nghĩa là cảm thấy yên tâm và an toàn trong chính cái “nhà tù” xã hội này, và thường không ai dám và cũng không ai muốn vượt qua những điều đã được xã hội qui định, không ai muốn mình bị xã hội phê phán, chê trách, lên án, hay loại trừ ra ngoài lề xã hội.
Cũng trong cuốn sách của Peter L. Berger được trích dẫn trên đây, Berger còn nói : cuộc sống của chúng ta không những được qui định bởi những người đương thời với chúng ta, mà cả những người đã khuất từ nhiều thế hệ trước ; và năm tháng càng trôi qua, thì những chuẩn mực và qui định của tiền nhân lại càng được “tin tưởng và sùng kính” hơn so với lúc chúng mới được đề ra hồi ban đầu.[2]
Nêu ra thí dụ về đôi tình nhân ngồi tỏ tình dưới ánh trăng, Berger cho rằng thực ra những ứng xử của cả hai người đều đã được qui định sẵn bởi xã hội, chứ chẳng phải là những hành vi “tự do” hay ngẫu hứng gì : từ việc người con trai nắm lắy tay người con gái, cho đến lời tỏ tình và cầu hôn từ phía người con trai, và cách thức nhận lời cầu hôn của người con gái. Tất cả những hành vi ấy và lời nói ấy đều nằm trong những nghi thức (social ritual) mà xã hội đã qui định và khó có ai dám làm khác đi. Trong xã hội truyền thống phương Tây, người con trai phải “đi bước trước”, nghĩa là anh ta phải cầm lấy tay người con gái, chứ không phải ngược lại, và đã tỏ tình thì phải cầu hôn, vì tình yêu mà không đi đến hôn nhân thì sẽ bị coi là vô đạo đức, và sẽ chỉ được lấy một vợ một chồng mà thôi. Chúng ta biết là ở những môi trường xã hội khác thì hệ thống giá trị và qui tắc có thể hoàn toàn khác : thí dụ ở xã hội Ả-rập thì một người đàn ông phải có nhiều vợ, ngược lại ở xã hội Tây Tạng cổ truyền thì một người vợ phải có nhiều người chồng.
Berger viết rằng việc chuyển hóa từ khái niệm “sức hút của tình dục” (sexual attraction) sang khái niệm “cảm xúc lãng mạn” (romantic emotion) đã được hình thành khi những chàng thanh niên đi hát dạo để tán tỉnh các phụ nữ quí tộc vào thế kỷ 12. Và việc người đàn ông luôn luôn đóng vai là người chủ động trong việc cầu hôn (nắm tay, tỏ lời cầu hôn) và người phụ nữ luôn đóng vai là người hiền dịu chấp thuận lời cầu hôn đó, xuất phát từ thời kỳ tiền sử rất xa xưa, khi mà các chiến binh đến xâm chiếm những bộ lạc mẫu hệ hiền hòa và cướp đi những người con gái để lấy về làm vợ.[3]
Đối với trường hợp đôi nam nữ ngồi tỏ tình dưới ánh trăng, Berger cho rằng chúng ta thường tưởng rằng chúng ta được tự do trong hành động hay trong các quyết định của mình, nhưng thực ra chúng ta chỉ được tự do chọn giữa người này hay người khác để lấy làm vợ hay làm chồng mà thôi, còn toàn bộ các thủ tục đều đã được qui định sẵn rồi – từ cách thức tỏ tình, nắm tay, cho tới lễ nghi cưới hỏi… Qui luật của cuộc chơi đã được xác định trước khi chúng ta ra đời từ lâu.
Chính là trong ý nghĩa này mà Berger nói tới hình tượng “nhà tù” xã hội mà chúng ta tự nguyện giam hãm mình trong đó, và không ai muốn thoát ra hoặc có thể thoát ra được.
3. Con người xây dựng thế giới của mình
Trong đoạn văn trích dẫn trên đây của Berger, ngoài ý tưởng về việc tự nguyện gắn bó và ràng buộc vào xã hội (mà Berger gọi là sự “câu kết” của chính chúng ta với xã hội trong quá trình này), Berger còn nói tới sự tham gia chủ động của chính chúng ta vào việc thiết lập nên các định chế xã hội : chúng ta “không ngừng xây dựng lại” những bức tường của cái nhà tù đang giam hãm chúng ta.
Chúng ta không nên hiểu rằng Berger có một cái nhìn bi quan về đời sống xã hội của con người khi ông ta so sánh với hình tượng “nhà tù”. Berger là một trong những người rất chú trọng tới vai trò của cá nhân trong quá trình xã hội hóa. Ông hiểu là các định chế xã hội đều do con người hình thành nên, và các thế hệ tiếp theo không ngừng tiếp tục “xây dựng lại”, hoặc củng cố, hoặc biến đổi chúng cho phù hợp với thời đại của mình. Nhưng là “xây dựng lại” để chúng vẫn tiếp tục là “bức tường của nhà tù” cho thế hệ mình đang sống và các thế hệ sau. Chính vì thế mà Berger nói là chúng ta “bị phản bội” bởi chính “sự hợp tác của chúng ta” vào trong quá trình đó.
Tư tưởng của Berger về việc chúng ta luôn luôn “xây dựng lại” các “bức tường” định chế này không hẳn có nghĩa là chúng ta luôn luôn sửa đổi hoặc bổ sung những qui tắc và chuẩn mực của các định chế xã hội, mà chủ yếu là ông ta muốn nhấn mạnh tới hiện tượng là chúng ta luôn luôn khoác cho những định chế ấy những ý nghĩa thiết yếu trong cuộc sống của chúng ta. Con người không thể sống ngoài các định chế. Con người-sinh vật không thể trở thành con người-xã hội nếu thiếu các định chế. Theo Berger, định chế đối với con người đóng vai trò cũng giống như bản năng đối với các con vật.
Bên cạnh việc kế thừa các định chế (chúng có sẵn ở đó trước khi chúng ta ra đời), chúng ta còn luôn luôn củng cố chúng. Berger cho rằng : chính con người xây dựng nên thế giới của mình, nhưng đó hoàn toàn không phải là chuyện của cá nhân, mà là một công trình xây dựng của cả một tập thể, một cộng đồng xã hội. Chính là cộng đồng xã hội đã xây dựng nên “thực tại xã hội” mà chúng ta đang sống trong đó. Cái nhìn về “thực tại xã hội” của mỗi người chúng ta không phải là cái nhìn chủ quan của từng cá nhân, mà đó là một cái nhìn mang tính xã hội, tức là một cái nhìn mà chúng ta đã học được, tiếp thu được từ xã hội.
4. Nhận định và phê bình
Nói tóm lại, chúng tôi cho rằng ý tưởng nói trên của Berger đã có công là tóm gọn được một cách sắc sảo và hình tượng về mối quan hệ giữa con người với xã hội, về tính chi phối và quyết định của các định chế xã hội đối với cá nhân, đồng thời cũng đề cập được tới sự tương tác giữa con người với xã hội, và nhấn mạnh tới tính năng động của con người trong việc xây dựng thế giới của mình và trong việc tìm ra ý nghĩa của hành động của mình trong quá trình này.
Tuy nhiên, xét về mặt phương pháp luận nghiên cứu xã hội học, chúng tôi nghĩ rằng nếu chỉ dừng lại ở tư tưởng của Berger thì chưa đủ để tiến xa hơn trong việc lý giải về xã hội. Cái nhìn của Berger về quan hệ giữa con người và xã hội đã không chú tâm tới vấn đề cấu trúc xã hội – vốn cũng là một thực tại xã hội hết sức quan trọng mà nhà xã hội học không thể không lưu tâm tới nếu muốn lý giải một quá trình xã hội hay một hiện tượng xã hội một cách toàn diện.
Và từ đó, chúng ta cũng nhận thấy là cách nhìn của Berger con người và xã hội như vậy cũng sẽ khó mà giải thích được những hoàn cảnh chuyển biến xã hội hoặc đột biến xã hội, như một cuộc cách mạng chẳng hạn.
Hà Nội (Viện Xã hội học,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia)
Ngày 29-7-1996
T.H.Q.
[1]“Society penetrates us as much as it envelops us. Our bondage to society is not so much established by conquest as by collusion… we are entrapped by our own social nature. The walls of our imprisonment were there before we appeared on the scene, but they are ever rebuilt by ourselves. We are betrayed into captivity with our own co-operation.” (Peter L. BERGER, Invitation to Sociology – A Humanistic Perspective, Harmondsworth, Penguin Books, 1969, p. 141).
[2] Peter L. Berger, sách đã dẫn, trang 101.
[3] Peter L. Berger, sách đã dẫn, trang 102.
(Nguồn: phucdinhhong.wordpress.com)
- 1 nhận xét
- 0 views
- Tweet
Email
Print



toi thay day la bai viet hay