05:25 am - Sunday 26 May 2013
Hanoi, VM - 34 °CFair - Humidity: 56%

Chương 8 Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành

By VNSW - Mon Oct 11, 6:59 pm

VNSW xin trân trọng giới thiệu Chương 8 với tiêu đề Hoạch định, trong Tập tài liệu Công tác xã hội: Lý thuyết và thực hành của tác giả Trần Đình Tuấn, ĐH San Jose, Hoa Kỳ:

Sau khi hoàn tất phần lượng định để hiểu rõ khách hàng và vấn nạn, nhân viên CTXH cùng khách hàng lập chương trình hành động để giải quyết vấn nạn, đây là phần hoạch định. Hoạch định là xác định mục tiêu thay đổi mà khách hàng muốn đạt được; các nguồn tài nguyên cá nhân, gia đình, và cộng đồng mà khách hàng có thể vận dụng; và những việc phải làm để đạt mục tiêu. Điều quan trọng nhất trong hoạch định là sự tham gia của khách hàng vào công việc này. Trong những trường hợp lý tưởng, khách hàng và nhân viên CTXH hợp tác chặt chẽ trong mọi giai đoạn của quá trình lượng định và hoạch định. Nhân viên CTXH thiếu kinh nghiệm có thể dễ dàng mắc phải khuyết điểm trầm trọng khi nóng vội, chủ quan, nghĩ rằng mình có thể không cần đến khách hàng như trong giai đoạn lượng định, và tiến hành hoạch định dựa trên kết quả lượng định và kiến thức chuyên môn của mình. Thực tế là khi khách hàng không tham dự vào hoạch định, họ không nhiệt tình thực thi những công việc đề ra hoặc những công việc đó không thực tế, nằm ngoài khả năng thực thi của họ. Trong nhiều trường hợp, đặc biệt đối với những khách hàng thuộc thiểu số thường bị đối xử bất công trong xã hội, khách hàng không tự tin, lệ thuộc vào nhân viên CTXH, hoặc thụ động để cho nhân viên CTXH tự ý đề ra hoạch định. Đây là những dấu hiệu của khó khăn, đòi hỏi nhân viên CTXH phải cố gắng nếu muốn tránh thất bại. Cố gắng quan trọng nhất là phải làm thế nào để khách hàng có được lòng tự tin, nghĩ rằng họ có khả năng đạt được sự thay đổi. CTXH không giúp khách hàng thích ứng với áp bức mà nhắm truyền lực/empower cho khách hàng để họ mạnh dạn chống lại kỳ thị, áp bức của số đông và đạt được đối xử bình đẳng như tất cả mọi người khác trong xã hội. Thí dụ: CTXH không viện những giá trị luân lý như tứ đức tam tòng, công dung ngôn hạnh, “sự gì Thiên Chúa đã kết hợp con người không thể phân ly”, hoặc “từ bi hỉ xả”… để khuyên người vợ nạn nhân kiên nhẫn thuyết phục người chồng bạo hành kinh niên đã hết thuốc chữa. Trái lại, CTXH ưu tiên giúp người vợ vận dụng các nguồn tài nguyên trong gia đình và xã hội để dứt khoát chấm dứt sự hành hạ áp bức, tạo sự an toàn trong thời gian ngắn nhất có thể được cho các nạn nhân.

Đặc tính khác của hoạch định là các mục tiêu, các tài nguyên, và các công việc đề ra đều phải cụ thể, rõ ràng, có thứ tự ưu tiên trước sau và có thể đo lường được. Thí dụ: biết cách dạy con có hiệu quả (mơ hồ). Mục tiêu này có thể đề ra một cách cụ thể như sau: học xong lớp Nghệ Thuật làm Cha Mẹ Đối Với Con Cái Trong Tuổi Dưới 13. Phân công trong các bước thực hiện cũng phải rõ ràng cụ thể. Thí dụ: nhân viên CTXH cung cấp địa chỉ và giới thiệu khách hàng đến lớp Nghệ Thuật Làm Cha Mẹ. Khách hàng ghi danh trong tháng Hai, đi học đầy đủ và hoàn tất lớp học với chứng chỉ tốt nghiệp trước cuối tháng Sáu.

Ngoài ra hoạch định phải uyển chuyển, dự trù những trường hợp khó khăn trắc trở cần phải thay đổi.

1. Các phần của kế hoạch

Kế hoạch giúp đỡ có ba phần, mục tiêu/goal và các bước tiến đến mục tiêu/ objective; đối tượng chú ý; và chiến lược chung bao gồm vai trò và phần việc của khách hàng, nhân viên CTXH, và các người khác.

2. Mục tiêu và các bước tiến đến mục tiêu

Mục tiêu là đích cuối cùng, là sự thay đổi chung cuộc để giải quyết vấn nạn của khách hàng. Sự thay đổi này có thể là thay đổi từ cá nhân khách hàng (thí dụ từ bỏ một tật xấu, giảm một số triệu chứng bệnh tật, thay đổi cách ứng xử… ), hoặc thay đổi từ người khác hoặc môi trường. Để đạt được mục tiêu, khách hàng thường phải giải quyết một số mục tiêu nhỏ. Thí dụ để đạt mục tiêu sống thoải mái bớt căng thẳng trong gia đình, khách hàng (người mẹ) sẽ phải học cách giao ít nhất một nửa số việc nhà cho các con; sẽ để dành mỗi cuối tuần một buổi nghỉ ngơi, không làm gì hết, hoặc chỉ làm những việc có tính cách giải trí; sẽ mỗi năm vợ chồng con cái đi du lịch một tuần lễ; sẽ thôi không chơi chứng khoán, v.v… Đây là những mục tiêu nhỏ cần giải quyết trước khi đạt được mục tiêu lớn là giảm bớt căng thẳng.

Mặc dù khách hàng có thể có nhiều mục tiêu liên quan đến nhiều lĩnh vực lớn trong cuộc sống, thí dụ hạnh phúc gia đình, công ăn việc làm, sức khỏe… nhân viên CTXH phải cùng với khách hàng phân loại thứ tự ưu tiên để tập trung giải quyết mỗi lần từ một đến hai mục tiêu trước khi tiến đến mục tiêu khác. Nhân viên CTXH thiếu kinh nghiệm có thể tham lam muốn giải quyết tất cả các vấn nạn của khách hàng trong một kế hoạch hành động. Điều này làm phân tán thì giờ, năng lực và tài nguyên, khó dẫn đến thành công. Khi lựa chọn mục tiêu ưu tiên, cần chú ý khả năng thành công của khách hàng (bao gồm khả năng trí tuệ, sức khỏe, tài nguyên) chứ không nhất thiết phải là mục tiêu quan trọng nhất, để tạo khí thế, nếu không khách hàng có thể sẽ nhụt chí, mất tin tưởng vào khả năng giải quyết vấn nạn của bản thân cũng như năng lực giúp đỡ của nhân viên CTXH.

Trong khi cùng với khách hàng lựa chọn mục tiêu, nhân viên CTXH dựa vào ý muốn của khách hàng và những tiêu chuẩn giá trị của CTXH (trong đó có sự tôn trọng ý muốn, văn hóa, lối sống… của khách hàng nếu những điều này không gây hại cho bất cứ ai). Mục tiêu sau khi đạt được có thể sẽ có những thay đổi ngoài ý muốn của khách hàng, vì vậy trong giai đoạn xác định mục tiêu, nhân viên CTXH cần giúp khách hàng duyệt xét mọi khía cạnh thuận lợi cũng như bất thuận lợi để khách hàng có quyết định lựa chọn thích hợp. Thí dụ bỏ cờ bạc có thể dẫn đến cảm giác bồn chồn khó chịu hoặc trầm cảm, gây ảnh hưởng xấu đến các khía cạnh khác của cuộc sống. Chính vì vậy nhân viên CTXH không bao giờ áp đặt mục tiêu thay đổi cho khách hàng mà luôn luôn giúp khách hàng phân tích các yếu tố để tự quyết định.

Có khi khách hàng muốn đạt được những mục tiêu không chính đáng, hoặc không thực tế. Trong những trường hợp này nhân viên CTXH phải giúp khách hàng ý thức được tính cách không chính đáng hoặc không thực tế của mục tiêu để khách hàng có những lựa chọn chính đáng. Thí dụ: khách hàng có thể muốn “dạy con biết vâng lời” mặc dù con đã đến tuổi vị thành niên. Đây là một mục tiêu không chính đáng mà rất nhiều phụ huynh ao ước đạt được. Mục tiêu chính đáng trong việc giáo dục con cái đã đến tuổi vị thành niên là dạy con biết phải trái và thẳng thắn, mạnh dạn, lễ phép trình bày ý tưởng của mình khi bất đồng ý kiến với người khác, kể cả ông bà, cha mẹ và thày giáo. Thực ra mục tiêu này phải được thưc hiện dần dần từ khi đứa bé còn trong tuổi ấu thơ (thí dụ cho phép đứa bé ăn lấy một mình mặc dù nó còn vụng về, làm đổ tháo hoặc dính đồ ăn lên mặt, làm cho cha mẹ phải mất thì giờ dọn dẹp). Nỗ lực “dạy con biết vâng lời” khi con cái đã đến tuổi vị thành niên là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái, gây ra buồn phiền thất vọng trong gia đình và làm cho không còn đối thoại ý nghĩa giữa cha mẹ và con cái.

Mục tiêu có thể có tính cách bao quát nhưng phải cụ thể, thường có thể được diễn tả bằng ý muốn của khách hàng. Thí dụ “tôi muốn bỏ thuốc lá”. Các bước nhỏ luôn luôn phải cụ thể, có thể quan sát hay đo lường được và có thời gian. Thí dụ: trong tháng 1 sẽ giảm số điếu thuốc hút mỗi ngày từ 1 gói xuống nửa gói. Nên dùng thể xác định thay vì thể phủ định khi đề cập hành động khách hàng cần làm để đạt mục tiêu. Thí dụ nên viết “sẽ đi ngủ trước 11 giờ” thay vì “sẽ không thức khuya quá 11 giờ”. Thể phủ định chú ý vào vấn nạn. Ngược lại, thể xác định giúp khách hàng chú ý vào kết quả thay đổi, làm tăng hy vọng và cố gắng của khách hàng.

3. Đối tượng trọng tâm

Đối tượng trọng tâm là đối tượng của các hành động để đạt mục tiêu và của các bước nhỏ dẫn đến mục tiêu. Đối tượng trọng tâm có thể là cá nhân khách hàng, là môi trường, hoặc là cách ứng xử qua lại giữa khách hàng và môi trường. Thí dụ: mục tiêu giúp khách hàng tạo cuộc sống hoà thuận, thoải mái hơn trong gia đình. Đối tượng của mục tiêu này có thể vừa là cá nhân khách hàng (bỏ một số tật xấu) vừa là các thành viên khác trong gia đình (tôn trọng khách hàng hơn bằng các hành vi cụ thể). Thí dụ khác: mục tiêu giúp khách hàng trẻ em chống lại tệ bắt nạt ở trường học. Đối tượng trọng tâm có thể là những thay đổi từ cá nhân em học sinh, thay đổi của cha mẹ (tích cực hỗ trợ nạn nhân, chú trọng các phương pháp tạo ra và nâng cao tự tin cho đứa trẻ…) và thay đổi của trường học (có quy định nghiêm cấm tệ bắt nạt và trừng phạt trẻ vi phạm). Khi thiết lập kế hoạch hành động, các đối tượng trọng tâm phải được xác định rõ cho từng mục tiêu cũng như trong các bước nhỏ dẫn đến mục tiêu.

4. Chiến lược

Chiến lược là cách tiếp cận tổng quát để tạo ra sự thay đổi và đạt được mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Tùy theo từng trường hợp, tùy theo đối tượng thay đổi (cá nhân khách hàng hay người khác, hay nhóm khác, hay môi trường), tùy theo tình hình tài nguyên, tùy theo mục tiêu… có thể có những chiến lược khác nhau. Chiến lược quyết định những việc phải làm, việc nào làm trước, việc nào làm sau, ai làm, và thời gian hoàn tất. Mỗi chiến lược có những giá trị và dựa trên những lý thuyết khác nhau. Khi chọn lựa chiến lược, ngoài những yếu tố có tính cách đặc thù của từng trường hợp, nhân viên CTXH cần cân nhắc xem mình có nắm vững lý thuyết nền tảng của chiến lược hay không; những giá trị và lý thuyết của chiến lược có phù hợp với mình và với khách hàng hay không. Thí dụ khi làm việc với khách hàng đồng tính là nạn nhân của kỳ thị về tính dục, hay phụ nữ nạn nhân của bạo hành trong gia đình, bên cạnh các biện pháp cưỡng chế, răn đe, chiến lược trọng tâm nên là giáo dục (giáo dục khách hàng, gia đình, và cộng đồng). Sau đây là một số chiến lược thông thường:

Chiến lược đồng thuận/consensus strategy: nhân viên CTXH nhắm thuyết phục mọi đối tượng liên can để có sự đồng thuận trong việc tạo ra sự thay đổi.

Chiến lược đối đầu/conflict strategy: lợi dụng sự mâu thuẫn giữa các đối tượng để tạo ra sự thay đổi.

Chiến lược mặc cả/bargaining strategy: giúp các đối tượng thương lượng với nhau, mỗi bên nhân nhượng một ít để đạt được sự thay đổi.

Chiến lược can thiệp khủng hoảng/crisis intervention strategy: áp dụng trong trường hợp xảy ra một sự kiện làm cho khách hàng mất khả năng ứng xử bình thường, có thể dẫn đến những phản ứng tai hại cho bản thân hay cho người khác. Tính cách khủng hoảng của sự kiện được quyết định bởi sự suy nghĩ và cảm nhận của khách hàng chứ không phải của những người chung quanh (có những sự kiện bình thường với mọi người nhưng lại là khủng hoảng với khách hàng, thí dụ cái chết của một con vật nuôi trong nhà có thể gây ra khủng hoảng cho người chủ). Trong chiến lược can thiệp khủng hoảng, nhân viên CTXH chủ động quyết định mọi chuyện để bảo đảm an toàn tức thời cho khách hàng và cho những người chung quanh. Can thiệp khủng hoảng thường ngắn, có thể lượng định trong vòng vài phút, hành động dứt điểm trong một vài tiếng đồng hồ (thí dụ gọi cảnh sát đưa khách hàng vào nhà thương thần kinh tâm trí) hoặc không quá sáu đến tám tuần lễ (thí dụ các trường hợp bạo hành trong gia đình). (Xem lại chương 3, phần Lý Thuyết Về CTXH Trong Những Tình Huống Khủng Hoảng)

Chiến lược gia đình/conjoint family strategy: áp dụng trong trường hợp gia đình có thể đóng một vai trò tích cực trong việc tạo ra sự thay đổi có lợi cho khách hàng.

Chiến lược phát triển cộng đồng/community development strategy:  áp dụng khi cộng đồng là đối tượng của thay đổi. Thí dụ khách hàng là một trẻ em dính líu vào băng đảng, trộm cắp, ma túy. Các biện pháp trừng phạt hay khuyên răn sẽ không có hiệu quả nếu không có những thay đổi từ cộng đồng: tăng cường hoạt động an ninh của cảnh sát, truy quét các ổ chích choác, băng đảng trộm cắp; thiết lập các trung tâm sinh hoạt lành mạnh cho thanh thiếu niên, tổ chức lớp học nghệ thuật làm cha mẹ, mở lớp dạy nghề để thanh thiếu niên có công ăn việc làm…

5. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Kế Hoạch

Kế hoạch chỉ có thể thi hành và thành công nếu có tài nguyên nhân vật lực, thì giờ, tài chính và ý chí của những người liên quan. Công tác lượng định, nếu được thực hiện chu đáo, sẽ giúp nhân viên CTXH nắm vững được tài nguyên và giúp khách hàng lập ra kế hoạch thực tế, khả thi (liệu cơm gắp mắm). Nói chung có bốn yếu tố ảnh hưởng đến kế hoạch trong CTXH, đó là cộng đồng, cơ quan CTXH, nhân viên CTXH, và khách hàng.

6. Cộng đồng

Khách hàng sống trong cộng đồng, vì vậy những tài nguyên có sẵn trong cộng đồng là yếu tố rất quan trọng. Đây cũng là lĩnh vực hoạt động rất lớn cho CTXH Việt Nam: xây dựng mạng lưới dịch vụ xã hội cộng đồng. Thí dụ: tệ nạn bạo hành trong gia đình khá phổ biến, nhưng thiếu lớp học cưỡng chế dành riêng cho những người bạo hành (lớp dạy cách giải quyết mâu thuẫn trong gia đình bằng phương pháp ôn hoà), và thiếu lớp học nghệ thuật làm cha mẹ. Ở những nước có ngành CTXH phát triển, ngoài hình phạt của luật pháp, người bạo hành trong gia đình còn bị bắt buộc tham dự lớp chống bạo hành (ở California lớp học này kéo dài 52 tuần lễ, mỗi tuần học một buổi, mỗi buổi 2 giờ 30 phút, theo mô hình Duluth, Minnesota). Ngoài ra cách suy nghĩ của những người sống trong cộng đồng về CTXH cũng là yếu tố quan trọng, có cộng đồng cởi mở đón nhận sự giúp đỡ từ bên ngoài, trái lại, có cộng đồng khép kín, không sẵn sàng “vạch áo cho người xem lưng”.

7. Cơ quan CTXH

mỗi cơ quan CTXH có những hạn chế riêng về tài nguyên, khả năng chuyên môn, chính sách… tất cả những hạn chế này không được ảnh hưởng đến lợi ích cao nhất của khách hàng. Nếu không tránh được ảnh hưởng tiêu cực, nhân viên CTXH phải giới thiệu khách hàng đến cơ quan khác nơi quyền lợi của họ được phục vụ với mức độ cao nhất có thể được. Thí dụ: khách hàng cần dịch vụ A, nhưng bảo hiểm của khách hàng trả tiền rất ít cho dịch vụ A, vì vậy cơ quan CTXH khuyến khích cung cấp dịch vụ B để thu được nhiều tiền hơn. Điều này, nếu xảy ra, là vi phạm quy ước về đạo đức của nghề CTXH.

8. Nhân viên CTXH

Có nhiều lý thuyết CTXH, nhiều chiến lược, nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết vấn nạn của khách hàng. Mỗi nhân viên CTXH cũng là một cá nhân độc đáo, có quá khứ, hoàn cảnh sống, văn hóa, cá tính… khác biệt nhau. Tất cả những điều này đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc giúp khách hàng thiết lập kế hoạch.

9. Khách hàng

Mỗi khách hàng cũng là một cá nhân với những hoàn cảnh sống, cá tính, văn hóa, và vấn nạn độc đáo. Khách hàng cũng có những ưu, khuyết điểm, những phương pháp giải quyết khó khăn, những ý thích riêng. Tất cả những yếu tố này phải được cân nhắc khi lập kế hoạch.

10. Quá Trình Lập Kế Hoạch

Lập kế hoạch là một quá trình hợp tác giữa nhân viên CTXH và khách hàng. Câu hỏi đầu tiên cho việc hoạch định kế hoạch là xác định mục tiêu của kế hoạch, bằng cách giúp khách hàng đặt câu hỏi và trả lời “Tôi muốn gì?” Nếu khách hàng có thể trả lời  “Tôi muốn X”, thì X là mục tiêu của kế hoạch. Nếu khách hàng không trả lời được câu hỏi này, hoặc trả lời một cách mơ hồ, nhân viên CTXH có nhiệm vụ giúp khách hàng tìm hiểu, phân tích hoàn cảnh của mình để xác định được ý muốn.

Câu hỏi kế tiếp là “Làm sao để đạt được X?” Đây là những bước nhỏ phải thực hiện, thực hiện trong thời gian nào, do ai, cần những tài nguyên nào, ở đâu?  Trong suốt quá trình này, khách hàng và nhân viên CTXH hợp tác bình đẳng, một bên là nhân viên CTXH có kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm chuyên môn, một bên là khách hàng, tức là chuyên viên về các vấn đề của bản thân họ. Trong mối quan hệ hợp tác bình đẳng này, khách hàng có quyền chọn lựa giải pháp và các hành động để giải quyết vấn nạn, đồng thời có trách nhiệm nhận lãnh hậu quả của sự lựa chọn đó.

11. Thỏa thuận giữa khách hàng và nhân viên CTXH

Sau công tác lượng định và hoạch định, khách hàng và nhân viên CTXH sẽ có một thỏa thuận chi tiết về việc thi hành kế hoạch đã đề ra. Thỏa thuận này có thể là thỏa thuận miệng, nhưng thường là thỏa thuận trên giấy tờ, với chữ ký của khách hàng, của nhân viên CTXH, và có thể của những người khác có liên quan. Ngoài công dụng quy định rõ ràng trách nhiệm của mỗi bên, bản thỏa thuận lưu giữ trong hồ sơ còn được dùng cho công tác kiểm tra và đánh giá trong CTXH.


Để lại phản hồi

Advertisement